ĐIÊU KHẮC ĐÔ THỊ – MỘT BÀI TOÁN KHÓ

Bài viết đăng trên TCKT số 163 (trang 51-54) năm 2008

Tác giả bài viết: TS.KTS Nguyễn Anh Tuấn

Hình ảnh: của tác giả và sưu tầm

 

Lĩnh vực điêu khắc truyền thống ở Việt Nam khá phong phú và đa dạng. Ở các vùng phía Bắc, người ta thích dùng điêu khắc gỗ hoặc đá, đặc biệt ở trong các đình chùa, đó là dòng điêu khắc của người Việt. Tây Nguyên có tượng nhà mồ, tượng gỗ thô mộc, ở miền Trung có các điêu khắc Chămpa bằng đá sa thạch, ở Nam bộ có dòng điêu khắc của người Phù Nam, Chân Lạp. Sự pha trộn các biểu tượng tín ngưỡng bản địa đã trở thành đề tài điêu khắc cổ Việt Nam. Nằm ở vị trí giao thoa của nhiều nền văn minh thế giới, Việt Nam đã tiếp nhận những tinh hoa văn hoá nhân loại theo cách riêng của mình. Đặc trưng nổi bật của quá trình giao lưu văn hoá kéo dài nhiều thế kỷ này là tính tổng hợp và dung hoà. Trong các tôn giáo ở Việt Nam, đạo Phật phát triển từ rất sớm và có triết lý gần gũi, do đó có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hoá tinh thần của người Việt. Tượng Phật nói chung và tượng cổ nói riêng phản ánh chân thực nền điêu khắc cổ Việt Nam, một nền điêu khắc “trong nhà” với những đặc điểm chính sau:

+ Tượng tạc trong tư thế tĩnh: tượng Phật hay tượng các vị vua, quan thường  là tượng ngồi, tượng nằm. Đây là một đặc điểm hiếm thấy trong điêu khắc phương Tây. Tư thế này phù hợp với không gian trong nhà (thấp, nhỏ).

+ Tượng có kích thước vừa phải, thường được tô vẽ, sơn son thếp vàng cho phù hợp với điều kiện ánh sáng yếu (ánh sáng hương, đèn, ánh sáng phản xạ…) và phù hợp với các nghi lễ tôn giáo. Đặc điểm này cũng khác với đặc điểm điêu khắc phương Tây- nơi mà tính chân thực của vật liệu luôn được phơi bày.

+ Phương pháp tạo hình dựa trên sự ước lệ thuận mắt. Tượng người và động vật thường không đúng với giải phẫu cơ thể; tạo hình theo sự hiểu chứ không theo lô gic sự vật như ở phương Tây… Sự khác biệt bắt nguồn từ nền văn hoá nông nghiệp lúa nước và các quan niệm về vũ trụ, trời đất (âm dương, ngũ hành…) của người Á Đông.

Người Việt xưa tuy không giỏi về điêu khắc ngoài trời, nhưng kinh nghiệm về điêu khắc môi trường dưới góc nhìn các mối tổng hoà: hình thể – hình khối – không gian là rất phong phú, qua việc quan niệm không gian điêu khắc và kiến trúc gồm 5 thành phần:

+ Không gian môi trường nghệ thuật: được hình thành bằng cảnh quan lễ hội, kiến trúc và thiên nhiên (không gian chùa Tây Phương, chùa Thầy, cột đá chùa Dạm…).

+ Không gian nghệ thuật tự thân: do chính tác phẩm điêu khắc tạo ra.

+ Không gian ước lệ: là sự quan niệm ước lệ nhằm phân định tính chất của từng không gian. Ví dụ: không gian đình, chùa, cổng làng mang tính ước lệ rất rõ.

+ Không gian ảo giác: được tạo ra bởi sự vận động của các góc nhìn khác nhau hay do những hiệu quả ánh sáng đặc biệt như hương, khói, mây, sương mù…

+ Không gian hư: đó là không gian được tạo nên bởi cảm xúc của tâm hồn, là không gian không thể đo đếm được. Không gian hư là yếu tố quan trọng tạo nên cảm giác gần gũi, ấm áp hay lạnh lẽo, nặng nề… Ví dụ: tiếng chuông chùa là dấu hiệu cho thấy vùng đất của nhà Phật. Tiếng mõ trâu cho cảm giác một không gian bình yên của buổi chiều tà…Chính vì thế, không thể đem các điêu khắc lạnh lẽo ở các nghĩa trang (không gian cho người chết) vào trong đô thị (không gian sống) như một vài trường hợp đã gặp.

Nói đến nghệ thuật truyền thống cũng cần chú ý đến nền điêu khắc đình làng đạt trình độ cao, giàu sức sống, đậm chất thôn quê và giàu tâm hồn Việt. Điêu khắc đình làng thể hiện hoàn toàn trên chất liệu gỗ, trong nền hình thể rất khắt khe là các hệ vì kèo, cột, đầu đao, đầu bẩy… Nghệ thuật tuy mộc mạc, nhưng thể hiện được khí sắc đời sống nông thôn Việt Nam. Nghệ thuật đình làng là hình mẫu, là nguồn cảm hứng, là kinh nghiệm sáng tác cho nhiều thế hệ kiến trúc sư và nghệ sĩ Việt Nam.

Các đặc điểm trên là kết quả của một nền văn hoá Nông nghiệp (phụ thuộc thiên nhiên, nhiều tín ngưỡng) và lối sống hướng nội, khép kín; chi phối toàn bộ đời sống văn hoá tinh thần người Việt.

Do những đặc điểm lịch sử trên, trong điêu khắc ngoài trời, chúng ta còn nhiều bỡ ngỡ hơn so với các loại hình nghệ thuật khác. Điêu khắc từ chỗ dùng để trang trí trong không gian nhỏ hẹp trong nhà nay vươn ra không gian quảng trường rộng lớn, trang trí công trình kiến trúc lộng lẫy. Điêu khắc từ chỗ là thứ nghệ thuật quần chúng, bình dân nay phải tuân theo các quy luật tạo hình khắt khe của nghệ thuật hàn lâm. Điêu khắc trước đây bám sát vào các nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng, nay lại nhắm đến mục đích giáo dục thẩm mỹ. Những thay đổi to lớn trên vừa là động lực, vừa là thách thức cho lớp người sáng tác còn non trẻ của nước ta.

Từ sau giải phóng 1975, điêu khắc hoành tráng đang có xu hướng phát triển nhanh ở các đô thị lớn, nhưng qua thực tế xây dựng đã nảy sinh không ít bất cập. Có những công trình điêu khắc được đặt ở những vị trí không hợp lý làm hạn chế tiềm năng của tác phẩm. Nhóm tượng Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của Hà Nội  đặt bên hông đền Bà Triệu, bên cạnh chợ Đồng Xuân… vô hình khai tử tác phẩm điêu khắc từ khi nó chưa khánh thành. Nguyễn Hải có tác phẩm Công nhân khá đẹp lại được đem đặt giữa bùng binh ngã bảy ở TP.HCM, trông giống như một bức tường xám xịt chắn hết tầm nhìn. Tượng vua Quang Trung đặt sau gò Đống Đa bị khuất, nên giảm khả năng đối thoại giữa tác phẩm với con người. Tượng Lý Thái Tổ cạnh hồ Gươm, tượng đài chiến thắng ở khu vực Đầu Sấu- Cần Thơ, bia kỷ niệm ở Vĩnh Hưng ở Bạc Liêu, tượng đài Mẹ Suốt (nằm lọt thỏm trong không gian bao la ở Quảng Bình)… cũng trong tình trạng như vậy (Xem hình 1).

image002

Hình 1 (từ trái qua, trên xuống): tượng Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh,  tượng mẹ Suốt ở Quảng Bình, tượng Quang Trung ở Hà Nội

Cách đây không lâu đã có người đề xuất dự án – theo cách của V.I.Lê Nin ở Liên Xô cách đây gần 100 năm – nên xây dựng ở Hà Nội 100 tượng đài lịch sử trong vòng 5 năm. Đó là một cách nghĩ rất thiếu cơ sở khoa học và duy ý chí.

Có những tượng đẹp, xây dựng có quy trình chặt chẽ, nhưng lại sa vào chủ nghĩa hình thức, quên mất cái hồn của tác phẩm, điển hình là tượng Bác Hồ ở TP Vinh, ở thủy điện Hoà Bình.Trong tâm khảm mọi người, Bác vốn hiền hoà, giản dị, nay bỗng to lớn đồ sộ đến kỳ vĩ, nên khó gây được cảm tình với người dân. Người Việt vốn giản dị và không thích phô trương, nên tượng người nếu có phải sờ nắm được, quấn quýt được; tạo cảm giác gần gũi, quen thuộc. Cùng rơi vào trường hợp này là tượng đài Chiến thắng Điện Biên, tượng Quang Trung ở Bình Định, tượng Mẹ Nhu (cũ) ở Đà Nẵng. Còn khối điêu khắc mang hình tượng “Mẹ bồng con” trước Nhà hát lớn TP.HCM thì quá nhỏ, lọt thỏm trong không gian quảng trường.

Có những tượng đài do cơ chế mà chịu cảnh hẩm hiu như tượng đài TP Đà Nẵng. Từ khi gắn lên tượng đài 4 chữ  Tổ – Quốc – Ghi – Công thay cho mảng phù điêu Ngũ Phụng Tề Phi, cư dân không còn đến đây vui chơi như dạo ban đầu. Tượng đài Công nhân Việt Nam ở Hà Nội thì bị cho là giống tượng đài trước nhà tượng niệm Mao Trạch Đông của Trung Quốc, thế nhưng vẫn được làm (Xem hình 2).

image003

Hình 2: Tượng đài trước nhà tưởng niệm Mao Chủ tịch Trung Quốc (trên) và tượng đài Công nhân Việt Nam (dưới)

 

Có những tượng đài chưa đạt tầm cả về nội dung  và nghệ thuật tạo hình hoặc thực hiện chưa đạt tầm của tác giả yêu cầu như: tượng An Dương Vương (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội), tượng đài chiến thắng ở chợ Gốc Ngô (Đan Phượng, Hà Tây), tượng anh Võ Văn Tần ở Long An, tượng Bác Hồ với thiếu nhi ở bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận, tượng Liên minh công nông ở Nghệ An, tượng Nguyễn Trung Trực ở Kiên Giang…

Tuy nhiên, không thể phủ nhận chúng ta cũng có những tác phẩm điêu khắc đẹp, đóng góp sinh động cho cảnh quan đô thị. Tượng Bác Hồ trước UBND TP HCM hài hoà với kiến trúc Ủy ban, tượng V.I.Lênin ở cạnh cột cờ Hà Nội (do chuyên gia Liên Xô giúp đỡ) (Xem hình 3), tượng Luis Pasteur ở vườn Pasteur, tượng đài Bắc Sơn ở khu Ba Đình, tháp hồ Con rùa ở TP.HCM, tượng đài liệt sĩ Tuyên Quang… Các công trình trên thành công do có những sáng tạo và trau chuốt trong tạo hình, đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ điêu khắc – kiến trúc – không gian đô thị.

image005 image007

Hình 3: Thành công của tượng Lênin (Hà Nội) và tượng Nữ thần Tự do (Newyork) có sự tương đồng trong lối thiết kế và chiếm lĩnh không gian

Nhìn chung, xây dựng tượng đài là một lĩnh vực rất khó và thực tế ở Việt Nam ít có tượng đài xây dựng thành công. Với điều kiện nước ta, trước khi dựng tượng đài lại càng phải trả lời nhiều câu hỏi mang tính thiết thực và hiệu quả. Tuy nhiên, người ta vẫn liên tục lập dự án xây dựng tượng đài, cái nào cũng to, hoành tráng. Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ tốn hết 37 tỷ đồng (chưa kể chi phí khắc phục sụt lún); tượng đài Thánh Gióng sắp xây dựng cũng khoảng 70 tỷ đồng; tượng đài công nhân Việt Nam xây hết 10 tỷ; tượng đài Lê Lợi ở Thanh Hoá xây hết 14,5 tỷ… Tượng đài xây dựng từ các nguồn vốn tư nhân, vốn tài trợ tuy còn rất ít, nhưng lại có hiệu quả đầu tư tốt. Trong khoảng 7 năm trở lại đây, vườn tượng và triển lãm điêu khắc đô thị đang trở thành một hướng mới cho điêu khắc trong đô thị. Đây là một hướng tiết kiệm tiền, mời được nghệ sĩ quốc tế tham gia và giúp bộc lộ hết khả năng của điêu khắc trong nước. Vườn tượng Thanh Đa, công viên Tao Đàn TP.HCM, vườn tượng ở Huế là những thành công bước đầu của mô hình này. Đã có ý kiến rằng tại sao chúng ta không gửi những dự án xây dựng tượng luật sư Loseby, người đã bào chữa cho Bác Hồ thoát khỏi nhà lao tại Hồng Kông, đến Hội đồng Anh để bày tỏ sự kính trọng dành cho ông. Tương tự với trường hợp Bill Clinton – người đã từng bị bắt giam vì phản đối chiến tranh Việt Nam, hay như chị Madelein Riffaud – người Pháp – chặn đoàn xe lửa chở vũ khí đến Việt Nam… bằng cách gửi tới quỹ Rockerfeller, quỹ Ford, trung tâm Văn hoá Pháp…

Do chịu ảnh hưởng một phần nền điêu khắc Liên Xô cũ, hầu hết các đô thị Việt Nam đang dựng tượng danh nhân, tượng anh hùng, tượng đài ca ngợi chiến thắng… Điêu khắc trong đô thị theo chủ đề lịch sử là cần thiết, nhưng với số lượng áp đảo như hiện nay thì lại phản tác dụng, mang nhiều màu sắc chính trị hơn là nghệ thuật. Các nhà quản lý văn hoá cần cân đối tỷ lệ các công trình theo đề tài này với thể loại tự do, ca ngợi cái đẹp, cái mới, hướng tới những giá trị của thời đại mới.

Người Việt có lẽ còn chưa quen với “văn hoá tượng đài” – loại văn hoá gắn liền với các không gian quảng trường, đài phun nước và dân cư vui chơi xung quanh. Các không gian quảng trường của ta hầu hết rộng mênh mông, nhưng vắng lặng. Chúng ta đang chuộng “văn hoá hè phố” với các quán cóc, tư duy mặt phố, buôn bán nhỏ. Hơn thế nữa, những chuẩn mực thẩm mỹ điêu khắc hàn lâm chưa phổ biến trong nhân dân mà hầu như chỉ gói gọn trong giới nghệ sĩ tạo hình và kiến trúc. Do đó, một bức tượng khoả thân thời Phục Hưng sẽ khó tạo được thiện cảm với người dân. Vậy chúng ta cần có thêm thời gian.   Trong xây dựng tượng đài, hình như hội đồng nghệ thuật (HĐNT) chỉ đóng vai trò tư vấn, trách nhiệm của HĐNT chỉ là “đóng góp ý kiến mang tính xây dựng”, còn chủ đầu tư có tiếp thu hay không thì không rõ. Chịu trách nhiệm về mặt mỹ thuật lại càng không phải là HĐNT, hội đồng mà lập ra chỉ để đầy đủ thủ tục. Một cuộc thăm dò trên Lao Động điện tử vào tháng 11.2004 về sự chính xác trong thẩm định của HĐNT với 734 lượt người tham gia. Kết quả là: chính xác: 20%; chưa thuyết phục: 52%; thẩm định của HĐNT và công chúng chưa khớp nhau: 28%. Một ví dụ điển hình về sự bất cập từ phía HĐNT, ở cả hai khâu xét duyệt phác thảo và nghiệm thu công trình, đó là công trình lập kỷ lục về độ lớn tượng đài ở nước ta: tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ. Công trình được phóng lớn từ bức tượng nguyên mẫu cao 1,2m của tác giả Nguyễn Hải làm năm 1960 thành một tượng đài kích thước 12,6m ở một vị trí lộng gió tại Điện Biên Phủ là chuyện khó có thể chấp nhận.

Một vài suy nghĩ của tác giả

Trong nghệ thuật tạo hình, tỷ lệ, sự cân đối- theo lý thuyết thẩm mỹ – là chìa khóa của cái đẹp, đơn thuần là tỷ lệ hình học, có thể đo đếm được. Ngay cả trong phương pháp tạo hình tượng Phật cổ ở Việt Nam cũng tuân thủ những nghiêm luật về tỷ lệ như sau:

+ “Tứ toạ”: Chiều cao tượng Phật ngồi bằng bốn đầu.

+ “Nhất diện phân lưỡng kiên”: chiều ngang của mặt tương đương một nửa độ rộng vai.

+ “Nhất diện phân tam tùng”: đầu chia làm 3 phần bằng nhau gồm từ đỉnh đầu đến chân lông mày; từ chân lông mày đến chân mũi; từ chân mũi đến cằm.

+ Lỗ rốn của tượng là tâm tượng chính là tâm đường tròn ngoại tiếp thân tượng. Tại đây, người xưa khoét một lỗ nhỏ và đặt một hạt vàng (bạc, kim cương, hổ phách, mã não…) rồi bịt lại, gọi là “yểm tâm” tượng. Đường tròn ngoại tiếp tạo thành một cung tròn dưới thân tượng chính là bệ toà sen.

Tượng Nguyễn Trung Trực ở Kiên Giang, Bác Hồ ở Bình Thuận có thể coi là những tác phẩm không thành công trong xử lý tỷ lệ…(Xem hình 4)

image014 image011 image009

Hình 4: Tỷ lệ trong tượng Phật cổ     Tượng Nguyễn Trung Trực     Tượng Bác ở Bình Thuận

Ngoài tỷ lệ hình học, tác phẩm điêu khắc đô thị thành công phải có “kích thước đô thị“. Đó là hồn nơi chốn của tác phẩm, cần đặt đúng nơi, đúng chỗ để tác phẩm có thể đối thoại với cuộc sống, như là một bộ phận của cuộc sống. Điều này đòi hỏi người nghệ sĩ phải thật sự am hiểu về nơi định đặt tượng, hoặc phải thật sự gắn bó với cuộc sống thường nhật nơi đó và bắt được cái nhịp sống ấy, cái hồn đô thị ấy để sáng tác (Xem hình 5).

 image015 image017

Hình 5: Tác phẩm bám rễ vào thiên nhiên               Tác phẩm mọc lên từ đất

Tỷ lệ liên quan trực tiếp đến cái khách quan thì tỷ xích lại quyết định cái đẹp chủ quan, tạo cho con người những cảm giác khác nhau: ấm cúng, gần gũi hay choáng ngợp, sợ hãi… Tỷ xích quá lớn là một hạn chế của tượng Bác Hồ ở Nghệ An, Hoà Bình. Tượng Bác trước UBND TP.HCM được coi là có tỷ xích hợp lý với kiến trúc và con người (Xem hình 6).

 image019 image021 image023

Hình 6: Tỷ xích và cảm nhận con người  Tượng Bác ở Nghệ An   Tượng Bác ở TP.HCM

        

Ngôn ngữ của điêu khắc đô thị là hình khối được biểu hiện qua ánh nắng, bóng đổ và chất liệu. Những tác phẩm điêu khắc ngoài trời nên tăng cường những động tác uốn vặn, gây những mảng sáng tối rõ, phá vỡ độ tĩnh của cơ thể, tạo sức căng cơ học. Điêu khắc cũng có thể dùng phương pháp tạo những sự tương phản giữa nhẵn bóng và sần sùi, giữa khối chìm và khối nổi, phá vỡ độ trơ bề mặt của chất liệu nhằm tạo cảm giác về khối rõ ràng hơn.

Điêu khắc đô thị được tạo ra với dự tính cho cả sự cảm thụ từ xa đến gần, khả năng vừa nhìn bao quát nhanh toàn bộ tác phẩm, vừa có thể thong thả xem tác phẩm ấy từng phần một. Do đó, điêu khắc cần phải khái quát hoá, cần đến cái nghĩa của hình tượng, của ký hiệu. Hình tượng khái quát không có nghĩa là đơn sơ mà là sự chắt lọc của đường nét, mảng khối, màu sắc, ánh sáng trong không gian đô thị. Điều này đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết kết hợp những phẩm chất trang trí “tầm xa” của tác phẩm nghệ thuật (quy mô, hình bóng – silhouette, đường nét, tiết tấu, tính chất trọn vẹn của xử lý màu sắc và bố cục) với tính chất đa diện trong hình tượng, tính diễn cảm của các chi tiết, vẻ đẹp của chất liệu và bút pháp.

Về kỹ thuật chiếu sáng, chiếu sáng trang trí đòi hỏi làm nổi bật chủ thể trong không gian tối, trong đó, yêu cầu trọng tâm là thể hiện được hình dáng chính (silhouette) và làm nổi bật những khối chính của tác phẩm điêu khắc. Trong trường hợp đặc biệt, ánh sáng cũng có thể có sự chuyển động và thay đổi, làm sống động không gian và biến hoá hình ảnh của tác phẩm điêu khắc.

Ngày nay, tác phẩm điêu khắc còn được coi như những cấu trúc không gian. Tác phẩm không nhất thiết phải là bức “tượng” theo quan niệm cổ điển mà có thể là những mảnh ghép tôn sắt, hoặc dây ny lon chằng chịt thành hệ thống 3 chiều, hoặc treo lơ lửng những mảnh dẹt theo một bố cục nào đó… Một số tác giả người Mỹ còn mở ra một chiều thứ tư nữa là thời gian: treo buông tác phẩm tương đối tự do, nghĩa là người xem thấy tác phẩm mỗi lúc mỗi khác. Họ còn đi xa hơn bằng cách dùng cả mô-tơ điện để tuần tự thay đổi hình dạng của khối điêu khắc. Ở nước ta có lẽ Tạ Quang Bạo là người đầu tiên đưa ‘không gian bốn chiều” vào trong tác phẩm của mình qua không gian thủng thoáng và lơ lửng trong tác phẩm Dòng sông Mê Kông tại triển lãm điêu khắc toàn quốc tháng 2-1984. Gần đây, nghệ thuật sắp đặt cũng đi vào điêu khắc đô thị với tư cách một loại hình nghệ thuật kết hợp giữa điêu khắc và bố cục với tính triết lý cao, qua các phương án trong cuộc thi thiết kế cổng chào Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, thiết kế khu tưởng niệm vụ khủng bố  ngày 11/9 ở Newyork…(Xem hình 7)

image025

Hình 7: Một số công trình điêu khắc theo những trào lưu mới (ở Mỹ, Hàn Quốc, TP.HCM)

Về mặt lý luận, điêu khắc đô thị (hay tượng đài) được coi là một trong 5 yếu tố cấu thành hình ảnh đô thị (Kevin Lynch – The image of the city – 1960). Trong thực tiễn vài chục năm trở lại đây, kiến trúc điêu khắc đã trở thành một trào lưu mới rất được ưu chuộng trong thiết kế đô thị. Công trình vừa là (both) một tác phẩm kiến trúc (gắn với công năng), lại vừa là (and) một tác phẩm điêu khắc hoành tráng (hay một cột mốc đô thị – landmark) – sự “nhập nhằng” theo lý luận của KTS Hậu hiện đại Robert Venturi (Complexity and contradiction in architecture-1966). Từ lý luận đến thực tiễn, thành công của những công trình La Défense (Pháp), Gates of Europe (Tây Ban Nha), Washington monument ở Washington DC, Gateway Arch ở St. Louis (Mỹ), World Peace gate ở Seoul (Hàn Quốc)… đáng để các nhà quản lý đô thị ở nước ta suy nghĩ (Xem hình 8).

image027 image029 image031 image033

Hình 8: Gateway Arch ở St. Louis Mỹ (trên) và đề xuất của tác giả cho 1 quảng trường (đầu cầu sông Hàn) ở TP Đà Nẵng

Qua một loạt vấn đề nêu trên, thiết nghĩ việc xây dựng tượng đài trong đô thị là một bài toán khó nhưng vẫn có lời giải. Hội KTS Việt Nam, hội Mỹ thuật Việt Nam cần đưa ra một cơ chế phối hợp hành động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả xây dựng tượng đài trong đô thị, trong đó quy định nhất thiết có sự phối hợp chặt chẽ giữa 2 giới kiến trúc sư và nghệ sĩ tạo hình trong các khâu: sáng tác, đánh giá, xét chọn, xây dựng và hoàn thiện công trình. Đồng thời, trước sự phát triển mạnh mẽ của điêu khắc hoành tráng, xã hội ngày nay cũng đặt ra những nhiệm vụ mới cho ngành kiến trúc dân dụng và các ngành nghệ thuật trang trí nhằm làm đẹp bối cảnh sinh hoạt của con người, gọi chung là “mỹ thuật môi trường”. Đây cũng chính là một cơ sở để chúng ta xây dựng chương trình đào tạo kiến trúc sư chuyên ngành thiết kế đô thị.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

* Tài liệu tiếng Việt

  1. Hội nghệ sỹ tạo hình (Hội Mỹ thuật) Việt Nam (1982 – 1987), Tạp chí mỹ thuật , Hà Nội.
  2. Đỗ Văn Khang (1997), Mỹ học Đại cương, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
  3. Hội Kiến trúc sư Việt Nam (1995 –2005), Tạp chí Kiến trúc, Hà Nội.
  4. E.H.Gombrich (Lê Sỹ Tuấn biên dịch) (1997), Câu chuyện nghệ thuật, nhà xuất bản Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh.
  5. Chris Scarre (Trung tâm dịch thuật – Nhà xuất bản mỹ thuật biên dịch) (2003), Bảy mươi kỳ quan của thế giới Cổ đại, nhà xuất bản mỹ thuật, Hà Nội.
  6. Thiện Tâm (2003), Điêu khắc môi trường, nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội.
  7. Tủ sách nghệ thuật (2000), nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội.
  8. Nguyễn Đức Thiềm và Nguyễn Chí Ngọc (2003), Hiệu qủa chiếu sáng và Nghệ thuật Kiến trúc, Hà Nội.
  9. Yoshida Mashatoshi, Đô thị qua con mắt họa sỹ và nhà điêu khắc, Nhật Bản.
  10. ThS Lê Thị Hồng Vân (2002), Mối quan hệ giữa kiến trúc và điêu khắc, tuyển tập công trình khoa học – ĐH Xây dựng Hà Nội, IV.
  11. SV Hồ Lê Hải Hà (2002)- Đồ án tốt nghiệp – Thư viện Trường Đại học Kiến trúc TP HCM.
  12. PGS.TS Phạm Đức Nguyên (2002), Kiến trúc Sinh khí hậu, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội.
  13. PGS.TS Nguyễn Quốc Thông (2000), Lịch sử xây dựng đô thị cổ đại và Trung đại phương Tây, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội.
  14. Các bài viết chuyên đề điêu khắc đăng trên các báo Thanh Niên, Tiền Phong, Văn hoá, Tuổi trẻ, An ninh thế giới.
  15. Các bài viết chuyên đề điêu khắc trên các báo điện tử: http://www.vnn.vn, http://www.vnexpress.net, http://www.thanhnien.com.vn, http://www.thanhhoa.gov.vn, http://www.danang.gov.vn.
  16. GS.TS Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở Văn hoá Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
  17. TS. Đỗ Văn Khang (1997), Mỹ học Đại cương, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
  18. GS Tôn Đại (2005), Kiến trúc Hậu hiện đại, Nhà xuất Bản Xây dựng, Hà Nội.
  19. Kim Quảng Quân (2000) – Đặng Thái Hoàng dịch, Thiết kế đô thị có minh hoạ, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội.

* Tài liệu tiếng nước ngoài:

  1. Laurie Schneider Adams– 3 volumes (1999), Art accross time, nhà xuất bản Mc Graw – Hill College, USA.
  2. The Zanho Press – Soichi Tominaga (1971), The great museums of the world, Nhà xuất bản Shogakukan, Nhật Bản (16 volumes).
  3. Sách của Nhật Bản (Chuyên về tượng Phật, kiến trúc cổ Nhật Bản), (không rõ xuất xứ và năm xuất bản).
  4. John Ormsbee Simonds (1997), Landscape Architecture, nhà xuất bản McGraw-Hill, USA.
  5. (1987), Architecture of the USSR 1917 – 1987, nhà xuất bản Maxcơva.
  6. Francis DK Ching (1996), Architecture – Form, Space, and Order, Nhà xuất bản Van Nostrand Reinhold, Mỹ.
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s