HIỆN ĐẠI VÀ TRUYỀN THỐNG (HI – TECH AND TRADITION)

Tác giả

KTS Tetsuo Furuichi – Giảng viên thỉnh giảng Viện Công nghệ Chiba, Đại học Nihon, Đại học khoa học Tokyo, Waseda – Nhật Bản

TS. KTS Nguyễn Anh Tuấn – Khoa Kiến trúc – Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng

           Người ta ước tính rằng hơn 30% lượng năng lượng tiêu thụ trên thế giới là do những công trình và các môi trường xây dựng. Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu hiện nay, vấn đề được đặt ra cho các KTS là làm thế nào giải quyết vấn đề hiện đại hoá đi kèm với việc sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng đang ngày càng khan hiếm.

 Image

 

Hình 1: Sự phân bố mức tiêu thụ năng lượng trong khối EU với tổng mức năng lượng vào khoảng 10 MWh một năm – trong đó công trình chiếm đến 41% tổng mức tiêu thụ (Nguồn: Deschamps, 2001).  

          Trong suốt thế kỷ XX, kiến trúc hiện đại phương Tây đã lan rộng khắp thế giới. Phong cách Quốc tế khởi xướng cách tiếp cận toàn cầu trong kiến trúc với quan niệm kiến trúc hiện đại và kỹ thuật mới có thể áp dụng bất cứ ở đâu trên thế giới. Những phương thức xây dựng giống nhau được áp dụng dù đó là ở miền núi cao hay vùng đồng bằng, xứ lạnh hay xứ nóng… Động lực của Phong cách Quốc tế chính là sự tiện lợi mà công nghệ mới đem lại. Đó là một mục tiêu chính đáng, được vận dụng với hy vọng rằng tất cả mọi người đều có thể hưởng những tiến bộ.          

          Image

 

 

 

 

Hình 7: Công trình Seagram Building theo lối Kiến trúc Hiện đại của Mies Van Der Rohe (Nguồn: Internet)

          Ý tưởng ban đầu của các KTS theo trường phái Hiện đại đầu thế kỷ XX như Mies Van Der Rohe là đúng đắn. Đó là giúp con người được hưởng lợi từ công nghệ mới, xây dựng nhanh chóng và nhiều. Tuy nhiên, phương pháp xây dựng công nghiệp hóa bởi các KTS Hiện đại dẫn đến một hệ quả không theo dự kiến. Họ không nhận ra rằng một công trình Kiến trúc hiện đại đặc trưng được làm từ thép, bê tông và kính xây dựng, những vật liệu bao hàm năng lượng nội thân rất lớn. Hơn nữa, việc xây dựng với cùng một nguyên tắc thiết kế cho mọi vùng địa lý khác nhau dẫn đến việc sử dụng năng lượng tràn lan cho việc sưởi ấm, làm mát, chiếu sáng nhân tạo và vận hành các hệ thống cơ học bên trong. Và hệ quả tiếp theo, một lượng lớn khí CO2 đã thải ra do việc tiêu thụ năng lượng. Nó là nguyên nhân quan trọng trong quá trình gây Hiệu ứng nhà kính và tình trạng khủng hoảng hiện tại khi trái đất nóng lên. Ví dụ, sự ấm lên toàn cầu và hiện tượng dâng lên của mực nước biển. Xét về phương diện môi trường, chúng ta có thể nhìn nhận những KTS như Mies như là phản sinh thái.

 Image

 

 

Hình 2: Kiến trúc nhiệt đới Châu Á nhưng giống như những chiếc hộp kính – “những chiếc cối xay năng lượng” (Nguồn: Internet)

 

          Những nghiên cứu và khảo sát 4 năm một lần từ Ủy ban năng lượng Mỹ cho thấy chỉ riêng các công trình thương mại, có quy mô 1000 feet vuông (1 tầng) trở lên, mỗi năm ngốn của nước Mỹ hơn 80 tỷ USD chi phí năng lượng. Ngoài ra, cũng theo cơ quan này, đáng ngạc nhiên là những công trình cũ lại có xu hướng sử dụng năng lượng tiết kiệm hơn những công trình mới xây.  

   ImageImage

Hình 3: Chi phí năng lượng và mức độ tiêu thụ năng lượng trên 1 foot vuông trong các công trình theo thời gian tại Mỹ (Nguồn: Deborah Snoonian, 2003)

          Một hiệu ứng không hay nữa của trào lưu Chủ nghĩa Hiện đại là khi hiện thực hóa Phong cách quốc tế, truyền thống, lịch sử và văn hoá bản địa bị bỏ quên. Những phương thức truyền thống, đã phát triển và được vun đắp trong một thời gian dài cùng với tiến trình lịch sử, đã bị thay đổi bởi công nghệ xây dựng mới trong thế kỷ XX. Cha ông chúng ta đã chung sống với thiên nhiên và môi trường mà không sử dụng nhiều năng lượng. Kiến trúc địa phương truyền thống được phát hiện ở mọi vùng đất trên thế giới, mỗi trong số chúng là một đáp số cho những vùng khí hậu, phong cảnh, lịch sử và văn hoá đặc trưng. Sự đa dạng trong trang phục của con người là một sự phản ánh rõ nét nhất. Kiến trúc cũng giống như vậy vì nó cũng có những chức năng và thuộc tính xã hội tương tự. Thiết kế kiến trúc đã được tạo lập trên cơ sở những hiểu biết phong phú về tự nhiên và xã hội.

          Ví dụ, ý tưởng sử dụng hơi nước để làm mát của một “ngôi làng nổi” hay “kampong ayer”, một nguyên tắc đã trở thành điều phổ biến cho các thị thành khắp Đông Nam Á cũng như Việt Nam. Ngay cả ở Endo, Tokyo cũ, nguyên tắc làm mát bằng bay hơi nước cũng được áp dụng bằng cách phun hay té nước những không gian chia sẻ giữa 2 ngôi nhà dài. Nước bay hơi và lấy đi nhiệt lượng và làm mát không khí trong nhà . Kỹ thuật làm mát tiêu tốn ít năng lượng này đã vận hành trong suốt nhiều thế kỷ trước khi có công nghiệp hóa và điều hòa không khí.

 Image  

Hình 4: Ngôi làng nổi “Kampong ayer” ở các nước vùng Đông Nam Á vận dụng nguyên tắc làm mát không khí bằng bay hơi nước  (Nguồn: Internet)

          Ở những quốc gia vùng Vịnh, những cái tháp gió được xây dựng như một bộ phận gắn liền với ngôi nhà. Đỉnh của tháp gió được mở để đón gió từ mọi hướng, và mái của tháp được làm từ sợi tự nhiên, ví dụ như rơm rạ, và được thấm nước. Khi gió nóng đi qua tháp dưới bề mặt ẩm ướt, quá trình bay hơi làm lạnh không khí và không khí mát sẽ đi vào trong nhà. Không gian nghỉ ngơi của gia đình thường được bố trí trực tiếp ngay dưới tháp gió để nhận gió mát.

 Image

Image

 

 

 

 

Hình 5: Tháp gió trong kiến trúc ở một số nước vùng Vịnh (Nguồn: T. Furuichi)

          Ở Torhuan, người ta đã xây dựng những ngôi nhà bằng đất sinh thái với những bức tường của ngôi nhà còn đóng vai trò là cửa sổ, lỗ thông gió, trang trí kiến trúc, lam che nắng… Đặc biệt thứ kiến trúc này không tốn nhiều năng lượng để xây dựng mà áp dụng các công nghệ địa phương và vận hành bằng năng lượng tự nhiên (gió, ánh sáng, độ ẩm). Hình mẫu này gợi nhớ lại kiến trúc nhà ở nông thôn Việt Nam cổ truyền: mái tranh, vách đất trộn rơm; nay đang mai một dần. Thay vào đó, người ta dùng mái bằng tôn kẽm và tường xây…, một hình thức xây dựng tốn tiền hơn, kém sinh thái hơn.

 Image

 

 

Hình 6: Nhà ở bằng đất tổ chức thông gió tự nhiên ở Torhuan – một khu vực rất ít mưa (Nguồn: T. Furuichi)

          Trên bình diện môi trường, Le Corbusier là một nhà sinh thái thực thụ. Ông phê phán cuộc sống đô thị chật cứng người và thích môi trường tự nhiên. Trong dự án cho một thành phố lý tưởng, dự án Voisin cho Paris, ông đề xuất một không gian xanh rộng mở và các tòa nhà cũng mở ra với tư nhiên. Tất cả trong “5 điểm cho kiến trúc hiện đại” của ông có đều các yếu tố tự nhiên: thứ nhất, để trống tầng trệt; thứ hai, mặt bằng tự do, giảm tường ngăn, làm cho không gian trong nhà thông  thoáng và sáng sủa; thứ ba và tư, mặt đứng tư do và cửa sổ băng ngang, tương tự cải thiện điều kiện thông thoáng và chiếu sáng tự nhiên; cuối cùng, thứ năm, vườn trên mái tạo sự cách nhiệt và tạo không gian mở.

          Trên thực tế, không có công trình nào của Le Corbusier trong vùng khí hậu nóng nực của TP Chandigarh Ấn Độ sử dụng điều hòa không khí. Thay vào đó, chúng sử dụng hệ thống thông gió tự nhiên và hệ thống che chắn nắng rất hiệu quả. Mặc dù Le Corbusier có tầm ảnh hưởng rất lớn, thật đáng tiếc nhiều KTS ở thế kỷ XX bắt chước hình thức kiến trúc hơn là áp dụng các nguyên tắc thiết kế của Le Corbusier. Ở Nhật Bản, người ta có một câu nói để diễn tả cách làm này: “Tạc một bức tượng Phật về mặt hình thức thôi mà không thổi cái tinh thần của Đức Phật vào công việc”.

 ImageImageImage  
 

 

 

Hình 8: Các phác thảo về bóng đổ, qũy đạo Mặt trời và các công trình ở Chandigarh – Ấn Độ của Le Corbusier (Nguồn: T. Furuichi)

          Ở Việt Nam, chúng ta đã từng thấy nhiều kinh nghiệm xưa rất có giá trị trong kiến trúc. Ví dụ, tấm mành tre được sử dụng như một tấm mành cho sự riêng tư, cho phép người ở trong nhà nhìn thấy bên ngoài, nhưng ngược lại thì không thể. Dù vậy, gió và ánh sáng tự nhiên có thể đi qua. Thêm vào đó, các cửa sổ, cửa ra vào nhà đều có các tấm phên tre lớn để che nắng, khi cần có thể mở toang hoặc khép hờ tùy theo điều kiện thời tiết. Ở một số công trình hiện đại, ví dụ như Dinh Thống nhất ở TP HCM, KTS Ngô Viết Thụ đã mạnh dạn tổ hợp những lam che nắng và thông gió rất hiệu quả trên những mặt đứng kiến trúc hiện đại. Những kinh nghiệm như vậy không nên để mai một.

 Image

 

 

Hình 9: Lam che nắng – thông gió trên mặt đứng Dinh Thống Nhất (Nguồn: http://www.is-tours.com)

          Ở Mông Cổ, những ngôi nhà lều truyền thống rất phù hợp với cuộc sống du mục, phải chở được bởi lạc đà và do đó có trọng lượng không vượt quá 300kg. Người dân thường di chuyển với cái lều đó, và các súc vật cùng sống chung với người, và khi cần trong mùa đông có thể dùng thịt của chúng làm lương thực và thay cho dầu đốt. Ta có thể nhận ra rất nhiều điều từ cách sống cộng sinh này.

          Ở vùng Shibam, Yemen – được mệnh danh là Manhattan trên sa mạc – người ta xây nhà nhiều tầng ken dày để tận dụng bóng râm của công trình để làm mát và tránh gió nóng sa mạc…

          Với những cách tiếp cận như vậy, một bản thiết kế không chỉ được tạo ra bởi KTS mà còn từ thiên nhiên.

          Những cộng đồng người sống ở trên khắp thế giới trước đây luôn có một cách ứng xử rất tôn trọng tự nhiên, với tín ngưỡng cho rằng thượng đế hiện thân trong các vật tự nhiên như cây to, tảng đá, núi… Vào thời xa xưa, người Celtic sống trên khắp Châu Âu, được bao phủ bởi những cánh rừng bạt ngàn và tín ngưỡng họ là thuyết vật linh (sùng bái 1 linh vật nào đó). Đặc biệt quan trọng đối với họ chính là niềm tin vào linh hồn của cây sồi. Qua những biến đổi thăng trầm của lịch sử và tự nhiên, những khu rừng dần biến mất, tín nguỡng vật linh của người Celtic về những khu rừng cũng không còn. Tương tự, vào thời kỳ Jomon ở Nhật Bản, người Jomon sống trong những khu rừng giàu tài nguyên và tôn thờ sức mạnh thiên nhiên theo thuyết vật linh. Về sau, dựa vào tiến bộ khoa học, con người tin rằng có thể chế ngự được sức mạnh của thiên nhiên, và hậu quả là các vấn đề môi trường mà chúng ta đang đối mặt. Quan niệm tôn trọng tự nhiên phải được xem xét lại, bao gồm cả việc tìm hiểu về các tín ngưỡng vật linh truyền thống, giống như người Celtic hay Jomon đã từng có.

          Trong thiết kế kiến trúc và cảnh quan khu vườn Nhật truyền thống, lối đi không bao giờ thẳng, người ta tin rằng một đường thẳng có nghĩa là một sự bẻ gãy với tự nhiên. Một lối đi có thể chuyển hướng và uốn quanh một gốc cây chứ không thể cắt ngang cây. Người Nhật xưa có câu: Nếu chúng ta không chống lại tự nhiên, khi cần thiên nhiên sẽ che chở chúng ta. Trong các lớp công trình ở cố cung Katsura gần Kyoto, các công trình được đặt quay mặt về hước Đông Nam cho phép đón gió mát mùa hè, lưng quay về hướng Tây để che chắn nắng chiều. Trong ngôi nhà truyền thống của nông dân Nhật có “Engawa” hay là mái hiên chạy quanh nhà. Nó có thể được đóng lại với các tấm phên che mưa, và bảo vệ khỏi gió lạnh mùa đông. Nhưng vào mùa hè, các tấm phên này có thể được tháo ra và không gian trong nhà mở rộng với gió mát hè. Ở tại lối vào ngôi nhà thường có 1 không gian gọi là “doma”, có nền bằng đất, giúp kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm hiệu quả. Khi thời tiết ẩm ướt, đất hấp thụ hơi nước, và khi thời tiết khô hanh, nó lại nhả ra hơi ẩm. 

 Image

 

Hình 10: Cách tổ chức hàng hiên “engawa” và tấm phên che mưa nắng trong kiến trúc nhà ở truyền thống của Nhật (Nguồn: http://www.jupiterimages.com)

          Một kinh nghiệm khác ở Trung Quốc là thuyết Phong Thủy, với yếu tố cốt lõi chính là “chi”, dịch nghĩa đen là “khí”, nhưng lại có nghĩa là năng lượng tự nhiên luôn lưu chuyển trên thế gian.  Người ta tin rằng Gió và Nước mang theo “khí”, và không được ngăn cản sự luôn chuyển của chúng. Nếu chống lại “khí”, chúng ta sẽ không thể chiến thắng tự nhiên. Phong Thủy là một kinh nghiệm truyền thống giải thích làm thế nào để sống hài hòa với tự nhiên, bằng cách tuân thủ tốt nhất dòng “khí”. Ngày này Phong Thủy lại là mối quan tâm của nhiều KTS và nhà khoa học. Nó gợi ý việc làm thế nào tạo ra kiến trúc “High Tech truyền thống”, với kỹ thuật mới kết hợp với kinh nghiệm truyền thống.

          Khám phá trở lại những nguyên tắc xưa không có nghĩa là hoàn toàn quay ngược trở lại quá khứ. Trong thời đại này, đã có không ít KTS thành công với phương châm kết hợp những giá trị truyền thống với kỹ thuật mới trong các công trình của họ mà còn đem đến cho kiến trúc những sắc thái đặc trưng. KTS người Sri Lanka Geoffery Bawa đã áp dụng các nguyên lý đó vào trong các công trình hiện đại của ông và đó là những hình mẫu cho sự kết hợp hài hoà giữa công nghệ và truyền thống. Trong các công trình Nhà quốc hội mới Sri LanKa và khách sạn Kandalama, ông đã vận dụng các nguyên tắc như: kiến trúc thích ứng khí hậu địa phương, sử dụng ít năng lượng, khai thác kiến trúc truyền thống, kiến trúc giao hoà với cây xanh mặt nước và cảnh quan, cây xanh trên mái nhà, thiên nhiên đưa vào trong nội thất… Ngoài Geoffery Bawa, diễn đàn kiến trúc thế giới đương đại còn chứng kiến nhiều đại diện ưu tú của trào lưu này như Renzo Piano với công trình Trung tâm văn hoá Tjibaou ở Nouméa – New Caledonia, Hassan Fathy với các công trình dân sinh, Glenn Murcutt với các công trình nhà ở sinh khí hậu, Jean Nouvel với công trình Viện Văn hoá Arập ở Paris, Ken Yeang với các tiếp cận sinh thái trong kiến trúc…

 Image

 

 

Hình 11: Quần thể nhà Quốc hội Sri Lanka (Nguồn: William Lim)

          Qua những phân tích ở trên, chúng ta phải ý thức được giá trị của các kinh nghiệm truyền thống. Chúng ta cần hiện đại hóa, nhưng hãy sử dụng chúng một cách có cân nhắc, nhất là trong vấn đề môi trường và phát triển bền vững. Kiến trúc nên chăng là sự kết hợp giữa công nghệ với các kinh nghiệm quá khứ về sống chung với tự nhiên.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s